"Chính sách tài khóa mở rộng"

Thảo luận trong 'Kinh tế học đại cương' bắt đầu bởi MrGhost0tb, 15 Thg 12 2009.

Lượt xem: 15.802, Trả lời: 8

  1. MrGhost0tb

    MrGhost0tb Gà kinh tế Econ

    Bài tiểu luận Kinh tế học đại cương

    Đề tài : Các tác động của "chính sách tài khóa" mở rộng đối với nền Kinh tế Việt Nam

    _________________________Bài làm_______________________________


    Phần I

    Cơ sở lý luận chung

    [FONT=&quot]I) Chính sách tài khóa trong Kinh tế học[/FONT]
    [FONT=&quot]1.Chính sách tài khóa[/FONT]
    [FONT=&quot]Là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phải triển của [/FONT][FONT=&quot]nền kinh tế[/FONT][FONT=&quot] thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa. Chính sách tài khóa đối lập với những chính sách kinh tế cơ bản khác như [/FONT][FONT=&quot]chính sách tiền tệ[/FONT][FONT=&quot], đó là chính sách nhằm ổn định nền kinh tế bằng cách kiểm soát[/FONT][FONT=&quot] tỉ lệ lãi suất[/FONT][FONT=&quot] và nguồn cung tiền. Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là [/FONT][FONT=&quot]chi tiêu của chính phủ[/FONT][FONT=&quot] và hệ thống thuế. Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của chính phủ có thể ảnh hưởng đến các biến số sau trong nền kinh tế:[/FONT]

    • [FONT=&quot]Tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế [/FONT]
    • [FONT=&quot]Kiểu phân bổ nguồn lực [/FONT]
    • [FONT=&quot]Phân phối [/FONT][FONT=&quot]thu nhập[/FONT]
    [FONT=&quot]Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt động kinh tế. Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và thu gọn. Chính sách trung lập là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi tiêu chính phủ, T: thu nhập từ thuế). Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ [/FONT][FONT=&quot]thuế[/FONT][FONT=&quot] và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế. [/FONT]
    2.Chính sách tài khóa mở rộng
    Llà chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G > T) thông qua chi tiêu chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả 2. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng. Chính sách tài khóa là chính sách thu chi của Chính phủ hay còn gọi là chính sách ngân sách. Còn chính sách tiền tệ là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của NHNN nhằm góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền. Trên thực tế, người ta thường hiểu rằng chính sách tài khóa do Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thực hiện còn chính sách tiền tệ do NHNN điều hành. Sự biến động không mong muốn của thị trường hiện nay có thể hiểu là tổng hợp của các nguyên nhân mà chỉ riêng chính sách tiền tệ không thể giải quyết. Theo chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành, bên cạnh những giải pháp hút tiền đồng về chúng ta cần tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Chính sách tài khóa của Bộ Tài chính cần có những biện pháp với thị trường trái phiếu để tài trợ cho ngân sách hay kiểm soát tiền cung ứng, quản lý nợ đi kèm với hoạt động thị trường mở của NHNN để điều tiết tác động của các luồng tiền. Trong khi đó, người ta chỉ thấy NHNN là nhân vật chính những ngày qua với những động thái tuyên chiến với lạm phát, song không hề có những chính sách tài khóa đi kèm, thậm chí còn chỏi lại. Quá trình chống lạm phát không chỉ bằng các giải pháp từ phía ngân hàng, mà cần có sự phối hợp của các ngành để kiểm soát các hoạt động huy động, sử dụng vốn và đầu tư các dự án, hoạt động chi tiêu chính phủ. “Lẽ ra, các giải pháp tiền tệ chỉ là 5 phần chứ không phải là toàn bộ 10 phần của câu chuyện điều hành vĩ mô. Chính vì nó là 10 nên dẫn đến hiệu quả ngược. Tiền tệ và tài khóa về nguyên tắc phải nhịp nhàng, trong khi các biện pháp tài khóa đang im lặng trước các biện pháp chống lạm phát và ổn định thị trường tài chính”, một chuyên gia đã tham gia điều hành tiền tệ nhiều năm tại NHNN chia sẻ với báo chí. Phát biểu tại một hội thảo về điều hành thị trường tài chính, Vụ trưởng vụ Chiến lược các Ngân hàng Lê Xuân Nghĩa đã nói rằng sự phối hợp chưa đồng điệu giữa tài khóa và tiền tệ đang gây ra nhiều ảnh hưởng. Chẳng hạn, để đạt được mục tiêu huy động vốn phục vụ cho các mục đích của Chính phủ (trong đó có bù đắp thâm hụt ngân sách), lãi suất trái phiếu thường cao hơn lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại. Điều này đã làm cho luồng tiền vốn dịch chuyển từ khu vực dân cư và doanh nghiệp vào trái phiếu để hưởng lợi và đương nhiên đầu tư phát triển kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân sẽ giảm xuống. Thêm vào đó, hàng năm NHNN vẫn phải cung ứng lượng tiền không nhỏ cho ngân sách nhà nước mà theo quy định “khoản tạm ứng này phải hoàn trả trong năm ngân sách”. Nhưng thực tế, nó đã không được hoàn trả đúng hạn và việc cho vay như vậy đã dẫn tới lượng tiền cơ sở tăng và kết quả gây áp lực tăng lạm phát. “Nhu cầu tài trợ của Chính phủ nhiều năm qua đã lấn lướt chính sách tiền tệ. Và vì thế, chính sách tiền tệ đã phải đi theo “công cụ hành chính”. Không ít tiền cung ứng đã bị chi phối bởi việc cho vay theo chỉ định cho các cấp chính quyền”, ông nhận xét. Ông Nghĩa dẫn ra Luật NHNN (năm 1997) xác định “NHNN là cơ quan của Chính phủ” để nói rằng đó là điểm quan trọng khiến cho NHNN được đối xử như là các cơ quan bộ, cơ quan quản lý nhà nước khác trong bộ máy chính phủ. “Ngay cả những quy định được ghi trong luật có khi cũng không được thực hiện nghiêm, thể hiện sự xung đột lợi ích và xung đột mục tiêu giữa chính sách tiền tệ và tài khóa. Ví như quy định tại điều 32, Luật NHNN về tạm ứng cho ngân sách nhà nước rất dễ biến NHNN trở thành cơ quan tài trợ cho Chính phủ”. Bên cạnh đó, việc thiếu cơ chế chia sẻ thông tin và phối hợp hoạt động giữa NHNN và Bộ Tài chính, đặc biệt trong vấn đề quản lý nợ công, quản lý dự trữ ngoại tệ nhà nước khiến chính sách tiền tệ và tài khóa trong ngắn hạn trở lên không rõ ràng. TS. Nguyễn Đại Lai - Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng, NHNN - cũng nhận định rằng, trên thực tế các dòng luân chuyển tiền và quy chế mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước qua hệ thống ngân hàng còn mang nặng tính chia cắt và tùy tiện. Việc mở tài khoản hiện tại của kho bạc chỉ để thanh toán chuyển khoản những món nợ nần giữa kho bạc, hoặc giữa các quỹ của Nhà nước với các bên liên quan hơn là để NHNN kiểm soát việc luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế. Mặt khác, NHNN đến nay vẫn chưa thành lập được trung tâm thanh toán quốc gia nên Kho bạc Nhà nước vẫn phải xây “kho” chứa tiền theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này. “Tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” của Kho bạc Nhà nước đối với một khối lượng tiền khổng lồ của quốc gia luôn tương đương với tổng thu ngân sách hàng năm cộng với các nguồn vay trong và ngoài nước của Chính phủ đạt tới doanh số trên dưới 33% GDP trên hệ số quay vòng tiền tệ quân bình của kho bạc đã làm biến đổi môi trường lưu thông tiền tệ theo hướng phi thị trường hóa”, ông Lai nhận xét. Riêng thị phần tín dụng cho đầu tư phát triển từ khu vực ngân sách nhà nước và các “quỹ” tài chính nhà nước ngoài ngân sách đã chiếm tới hơn 30% tổng đầu tư toàn xã hội trong những năm vừa qua. Đó là chưa kể, phần tín dụng chính sách, phần vốn nhà nước ở khu vực các doanh nghiệp nhà nước, các ngân hàng quốc doanh và phần bù lãi suất cho tín dụng chính sách ưu đãi hàng năm cũng ngày càng gia tăng. Thực tế, chúng ta không được biết chi tiêu của khối doanh nghiệp nhà nước và Chính phủ, chỉ biết rằng rất lớn. Ví dụ, tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Vinashin nhận 750 triệu đô la Mỹ từ tiền vay của Chính phủ thông qua bán trái phiếu quốc tế (tương đương 10.000 tỉ, và đây chỉ là một trong những khoản tiền được Chính phủ hỗ trợ đầu tư của tập đoàn quốc doanh này) được chi tiêu ra sao? Với một tổng công ty đã là như vậy, các đơn vị khác thế nào? Chi tiêu trong khu vực chính phủ tại Trung ương và các địa phương, hay các khoản chi tiêu công, xây dựng cơ bản hay qua các doanh nghiệp nhà nước được kiểm soát ra sao? Liệu những thống kê trên có được Bộ Tài chính đưa ra bàn với NHNN để có được một biện pháp thỏa đáng lái con tàu kinh tế? Hiện tại, Hội đồng Tư vấn tiền tệ quốc gia có thể nói là cơ quan duy nhất có các chuyên gia đại diện cho chính sách tài khóa và tiền tệ. Song, thực tế, nó chưa có đủ thực quyền quyết định và mới dừng ở chức năng tư vấn, người ra quyết định cuối cùng có thể nghe theo các ý kiến này hoặc không. Và thực tế, với Chỉ thị 03 hạn chế cho vay chứng khoán của NHNN, ý kiến chung của hội đồng muốn nới ra thì chính sách ban hành cuối cùng là thắt lại, còn khi hội đồng đề xuất mua ngoại tệ vào hồi đầu năm 2007 thì NHNN cũng không mua. “Cần nâng cấp ngay Hội đồng với thành phần và thực quyền mở rộng hơn, cũng như Thống đốc NHNN cũng chỉ nên có quyền biểu quyết là một lá phiếu như các thành viên khác khi thông qua các chính sách lớn. Minh bạch hóa chính sách tiền tệ còn bao gồm cả việc ra quyết định chứ không chỉ là việc thực thi”, một quan chức NHNN nhận định
    [FONT=&quot]3.Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ [/FONT]
    [FONT=&quot]Về cơ bản, chính sách tài khoá là chính sách thu chi của Chính phủ hay còn gọi là chính sách ngân sách. [/FONT]
    [FONT=&quot]Còn chính sách tiền tệ là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của Ngân hàng Trung ương nhằm góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền. [/FONT]
    [FONT=&quot]Trên thực tế, người ta thường hiểu rằng chính sách tài khoá do Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thực hiện còn chính sách tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước điều hành. Một vấn đề quan trọng là cơ chế phối hợp giữa hai chính sách mà cụ thể là hai cơ quan điều hành với nhau như thế nào để góp phần ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế[/FONT][FONT=&quot].[/FONT][FONT=&quot]Chính sách tài khóa là các quyết định của chính phủ về chỉ tiêu và thuế khóa .Ở các nước châu Âu , chính phủ trực tiếp mua khoảng một phân năm tổng sản lượng quốc dân và củng chỉ một lượng tương tự do chuyển giao thu nhập . Chỉ tiêu cua chính phủ được tái trợ bằng thuế .Chính sách ổn định : là hành động của chính phủ để giữ sản lượng gần với mức tiềm năng .Thâm hụt ngân sách : là phần chỉ tiêu của chính phủ vượt quá thu nhập của chính phủ.Chính phủ giải quyết vấn đề thâm hụt này chủ yếu bằng vay người dân thong qua bán trái phiếu trong đó hứa trả một khoản lãi cụ thể vào một ngày nhất định trong tương lai, khoản này làm tăng nợ của chính phủ đối với người dân .Chính phủ và dòng luân chuyển : chi tiêu chính phủ G cho hang hóa và dịch vụ đóng góp trực tiếp vào tổng cầu , chính phủ cũng rút tiền ra từ dòng luân chuyển thong qua thuế gián thu Td đánh vào thu nhập yếu tố , trừ chuyể giao thu nhập B làm tăng thu nhập yếu tố .Tuy nhiên , chuyển giao thu nhập tác động đến tổng cầu chỉ thông qua tác động đến các thành tố khác như cầu tiêu dùng hoặc cầu đầu tư .Các loại thuế thu trực tiếp : thuế thu nhập , thuế lợi nhuận công ty và các đóng góp xã hội khác theo qui định của nhà nước .Thuế gián thu : thuế GTGT , thuế tiêu thụ đặc biệt ( thuốc lá ,rượu ,xăng ,...)va các thuế bất động sản do chính quyền địa phương quy định .Thuế ròng bằng thuế trừ đi chuyển giao thu nhập .Khi không có thuế gián thu thì thuế ròng là thuế trực thu Td trừ chuyển giao thu nhập B .Ngân sách chính phủ :Là các kế hoạch chi và thu của một cá nhân một công ty hay chính phủ .Ngân sách chính phủ mô tả hang hóa dịch vụ mà chính phủ sẽ mua trong năm tới , các khoản chuyển giao thu nhập mà chính phủ sẽ thực hiện và cách thức chính phủ trang trải các khoản đó .Thâm hụt điều chỉnh theo lạm phát : sử dụng lãi suất thực tế chứ không phải lãi suất danh nghĩa dể tính chi tiêu chính phủ cho tiền lãi trả nợ .Các công cụ tự ổn định : lám giảm số dân và hạn chế phản ứng của sản lượng đối với các cú sốc cầu . Trong đó thuế GTGT và trợ cấp thất nghiệp là công cụ tự ổn định quan trọng .Chính sách tài khóa chủ động là các quyết định về thuế suất và mức chi tiêu của chính phủ . Chính sách này để thay đổi mức chi tiêu hay thuế suất nhằm ổn định tổng cầu .[/FONT]
    [FONT=&quot]Về cơ bản, chính sách tài khoá là chính sách thu chi của Chính phủ hay còn gọi là chính sách ngân sách (ví dụ như thuế, phát hành trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc,...).
    Còn chính sách tiền tệ là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của Ngân hàng Trung ương nhằm góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền (như lãi suất chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc,...)
    Trên thực tế, người ta thường hiểu rằng chính sách tài khoá do Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thực hiện còn chính sách tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước điều hành. Có thể nói hai cơ quan này giống như là một người in tiền thì sẽ không được dùng tiền và người kia sẽ sử dụng tiền như thế nào cho hiệu quả nhất.Một vấn đề quan trọng là cơ chế phối hợp giữa hai chính sách mà cụ thể là hai cơ quan điều hành với nhau như thế nào để góp phần ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế.[/FONT]
    [FONT=&quot]
    [/FONT][FONT=&quot]Còn tiếp...
    [/FONT]
    [FONT=&quot][/FONT]
    :
  2. MrGhost0tb

    MrGhost0tb Gà kinh tế Econ

    Phản hồi: "Chính sách tài khóa mở rộng"

    [FONT=&quot]II)Công cụ của chính sách tài khóa:[/FONT]

    [FONT=&quot]Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là: [/FONT]
    [FONT=&quot]A-Chi tiêu của chính phủ[/FONT]
    [FONT=&quot]
    1.Thu nhân sách [/FONT]
    [FONT=&quot]Thu từ thuế: Thuế GTGT,thuế tiêu thụ
    đặc biệt
    Thu từ các khoản phí, lệ phí.
    Thu từ việc phát hành tiền
    Thu từ các khoản vay nợ nước ngoài,
    nhận viện trợ từ nước ngoài.
    Thu từ phát hành xổ số kiến thiết, phát
    hành công trái.
    2.Chi ngân sách: [/FONT]
    [FONT=&quot]Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ. Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nươc.
    Bao gồm: Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ
    tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản,
    khấu hao tài sản xã hội.
    Chi bảo đảm xã hội, bao gồm: giáo dục, y
    tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông
    tin đại chúng, thể thao, lương hưu và trợ
    cấp xã hội, quản lý hành chính, an ninh
    quốc phòng, dự trữ tài chính,…[/FONT]
    [FONT=&quot] B-Giảm, giãn thuế - Công cụ hiệu quả của chính sách tài khóa[/FONT]

    [FONT=&quot]([/FONT][FONT=&quot]ĐTCK) Để ngăn chặn suy giảm kinh tế, Việt Nam đã thực hiện chính sách thuế linh hoạt và hiệu quả, trong đó tập trung giảm thuế, tăng các ưu đãi thuế và giãn thời hạn nộp thuế,chính sách này sẽ tác động tích cực đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, song ở thời điểm hiện nay sẽ làm giảm thu và làm tăng bội chi ngân sách.Chính sách tài khoá (bên cạnh chính sách tiền tệ) là một trong hai công cụ chủ lực nhằm kích cầu chống suy giảm kinh tế đã tập trung vào miễn, giảm thuế và giãn thuế[/FONT][FONT=&quot]Trong bối cảnh khủng hoảng, tất cả các quốc gia đều phải sử dụng chính sách tài khóa, tiền tệ để chống suy giảm kinh tế. Với Việt Nam, tất cả công cụ tài khóa đều được sử dụng bao gồm việc giảm thuế và tăng chi ngân sách nhà nước. Trên thực tế, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã liên tục giảm thuế, chẳng hạn thuế thu nhập doanh nghiệp đã liên tục giảm từ 32% xuống 28% và từ đầu 2009 là 25%. Trong giai đoạn suy giảm kinh tế, nhiều loại thuế tiếp tục được cắt giảm và giãn thời hạn nộp thuế như: giảm 50% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng trong năm 2009 đối với nhiều nhóm hàng hoá, dịch vụ; giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp của quý IV năm 2008 và số thuế TNDN phải nộp của năm 2009 đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa; giãn thời hạn nộp thuế TNDN trong thời gian 9 tháng đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2009; giãn thời hạn nộp thuế thu nhập cá nhân đến ngày 31/5/2009.Chúng tôi cho rằng, việc cắt giảm thuế và giãn thời hạn nộp theo các chính sách trên thuế sẽ có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất - kinh doanh, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế trong thời điểm này. Do tác động suy giảm kinh tế, thu ngân sách trong quý I/2009 đã giảm 20% so với cùng kỳ, nếu duy trì các chính sách cắt giảm thuế như hiện nay, chúng tôi ước tính giảm thu ngân sách năm 2009 vào khoảng 3% GDP. Để bù đắp thâm hụt nguồn thu ngân sách, chỉ có cách tăng vay nợ của Chính phủ cả trong nước và ngoài nước, trong đó vay trong nước là chủ yếu. Vì vậy, trong thời gian tới cần tăng cường phát hành trái phiếu chính phủ để bù đắp bội chi ngân sách. Với mức giảm thu như vậy, dự kiến năm 2009 Việt Nam có thể bội chi ngân sách tới 8% - đây là mức cao song tính trong dài hạn thì mức bội chi vẫn nằm trong giới hạn cho phép theo thông lệ quốc tế (3% GDP).Luật Thuế thu nhập cá nhân đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2009, thời gian được giãn tới ngày 31/5/2009. Tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế tiếp tục suy giảm hay duy trì được tăng trưởng khá mà mực hiện chính sách tài khóa linh hoạt. Riêng về thuế thu nhập cá nhân, mặc dù kinh tế suy giảm song vẫn có nhiều đối tượng nộp thuế có thu nhập cao. Vì vậy, cần thiết phải phân biệt các loại đối tượng có các mức thu nhập khác nhau để có biện pháp tiếp tục thu thuế, hay giãn thời hạn nộp thuế để hỗ trợ cho các đối tượng gặp khó khăn.Kinh nghiệm của một số nước là áp dụng chính sách hạ thấp thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. Ở nước ta, mức thuế TNDN hiện nay là 25%. Đây là mức thuế suất không cao. Tuy nhiên, nếu kinh tế tiếp tục suy giảm, có thể nghiên cứu hạ thấp hơn nữa mức thuế suất này.Bên cạnh đó, cần xem xét tăng chi đầu tư phát triển để xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng đầu tư thực hiện chương trình công nghệ quốc gia và đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây là chính sách tài khóa thúc đẩy tăng trưởng bền vững mà chúng ta cần tính đến.[/FONT]

    [FONT=&quot]

    [/FONT][FONT=&quot]III.Phân loại chính sách tài khóa:[/FONT]
    [FONT=&quot]
    Có 3 loại chính sách tài khóa: Chính sách tập trung, chính sách mở rộng và chính sách thu gọn.
    Chính sách tài khóatập trung [/FONT]
    [FONT=&quot]là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi tiêu chính phủ, T: thu nhập từ thuế). Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế.[/FONT][FONT=&quot]
    Chính sách tài khóa mở rộng [/FONT]
    [FONT=&quot]là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G>T) thông qua chi tiêu chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng.[/FONT][FONT=&quot]
    Chính sách tài khóa thu hẹp [/FONT]
    [FONT=&quot]là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó, hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng[/FONT]
    kimkuc and thanhthatvoitinhyeu like this.
  3. MrGhost0tb

    MrGhost0tb Gà kinh tế Econ

    Phản hồi: "Chính sách tài khóa mở rộng"

    Phần II
    Phần thực tiễn
    [FONT=&quot]Tác động của "chính sách tài khóa" mở rộng đối với nền Kinh tế Việt Nam trong năm 2009[/FONT]
    [FONT=&quot]Để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô, Nhà nước thường sử dụng 4 nhóm chính sách (tài khóa, tiền tệ, chi tiêu, ngoại thương). Tuy nhiên, tùy theo tính chất của một nền kinh tế và mỗi giai đoạn nhất định, Chính phủ có sự điều chỉnh các chính sách.Trong giai đoạn chống suy giảm kinh tế vừa qua, được sử dụng nhiều nhất là chính sách tiền tệ (CSTT) qua hỗ trợ lãi suất (HTLS) và đã phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, nếu có gói kích cầu thứ hai thì nên đặt trọng tâm vào chính sách tài khóa.
    An toàn hệ thống ngân hàng
    Đến nay, hiệu quả của gói kích cầu thông qua các quyết định của Chính phủ thể hiện trong việc chống suy giảm kinh tế, tạo động lực để Việt Nam có nhiều khả năng đạt mức tăng trưởng GDP từ 5% trở lên như mục tiêu đã định. Dù trong quá trình thực hiện có những nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan làm cho các gói kích cầu theo từng quyết định của Chính phủ có mức độ thấm vào nền kinh tế khác nhau. Để tránh sốc cho nền kinh tế khi gói kích cầu thông qua HTLS ngắn hạn theo Quyết định 131 chấm dứt vào 31.12.2009, gói kích cầu thứ hai như là một biện pháp "hạ cánh mềm" đang được thực tiễn đặt ra cần giải quyết trước khi Chính phủ bỏ mọi biện pháp trợ giúp cho DN để họ tự "bơi" trên thương trường.Dễ thấy gói kích cầu thông qua việc thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng (tăng cung tín dụng) với nền kinh tế đã phát huy tác dụng và hiệu quả nhanh hơn chính sách mở rộng tài khóa được thực hiện song song trong thời gian qua. Điều này minh chứng thêm cho nhận định về vai trò của ngành NH trong chống khủng hoảng và suy thoái quan trọng như thế nào. Nhưng cũng chính vì vai trò trọng yếu của ngành NH trong phát triển kinh tế của quốc gia nên ngành NH không thể mở rộng mãi tín dụng mà bỏ qua tính an toàn của hệ thống khi tham gia vào gói kích cầu thứ hai. Sắp tới vai trò của NH trong việc hỗ trợ DN không thể là "chủ lực" như giai đoạn vừa qua nữa. Các DN cần phải hiểu là không thể kỳ vọng quá cao, dựa chủ yếu vào tín dụng NH cho hoạt động kinh doanh như trước, họ phải đa dạng nguồn vốn qua việc phát hành thêm trái phiếu, cổ phiếu và tận dụng những chính sách hỗ trợ của Chính phủ trong việc kinh doanh thời khủng hoảng.Gói kích cầu thứ hai nên đặt trọng tâm vào chính sách tài khóa (bao gồm chính sách thuế, chi tiêu chính phủ) và cải cách hành chính, nhằm làm cho chính sách sớm và dễ dàng đi vào hoạt động kinh doanh của DN.
    Thận trọng trong gói kích cầu lần hai
    Hiện chưa rõ gói kích cầu thứ hai sẽ dựa chủ yếu trên chính sách nào, nhưng các bước đi cụ thể với sự thận trọng là rất cần thiết bởi nguy cơ lạm phát luôn hiện hữu. Chính sách tài khóa mở rộng nên đi kèm với CSTT thận trọng, chỉ ưu đãi có chọn lọc về tín dụng, sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các công cụ CSTT theo nguyên tắc thị trường để ngăn ngừa tái lạm phát.
    Về lãi suất nên được thắt lại dần. Có thể việc HTLS nên được giảm xuống chỉ còn 2%/năm cho 6 tháng đầu năm 2010. LSCB nên được nâng dần 0,5% bắt đầu trong những tháng cuối quý IV/2009. Tỉ giá cần được điều chỉnh linh hoạt với biên độ lớn hơn giúp các DN giải phóng nhanh hàng tồn kho xuất khẩu vào dịp nhu cầu thế giới sẽ tăng cao khi bước vào mùa Noel 2009.
    Trong chính sách tài khóa, nên tập trung ưu tiên cho những ngành nghề, những lĩnh vực tạo ra những mặt hàng XK có giá trị lớn, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động. Có mức ưu đãi (có thể khác nhau) cho từng DN mà tiêu chí hiệu quả được đặt lên hàng đầu chứ không phải là thành phần kinh tế, kèm theo đó là những chế tài cụ thể bằng tiền nếu DN không đạt những gì mà họ cam kết khi nhận sự trợ giúp từ gói kích cầu của Chính phủ. Ngoài chính sách thuế thì vấn đề cải cách hành chính và thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng nên được quan tâm chú ý.[/FONT]
    [FONT=&quot]Suốt một thời gian dài theo đuổi chính sách tăng trưởng với tốc độ cao nên từ 2002 đến 2007, Việt Nam đã thực thi chính sách tiền tệ mở rộng. Qua số liệu thống kê cho thấy: Năm 2006, GDP tăng 8,2%; giá tiêu dùng tăng 6,6%; tốc độ tăng tín dụng của toàn ngành NH là 25,44%, tổng phương tiện thanh toán tăng 33,59%. Năm 2007, GDP tăng 8,5%; giá tiêu dùng tăng 12,63%; tốc độ tăng tín dụng của toàn ngành NH là 53,89%, tổng phương tiện thanh toán tăng 46,12%. Năm 2008, GDP tăng 6,23%, giá tiêu dùng tăng 19,89%. Một trong những nguyên nhân khiến lạm phát tăng cao là do tăng cung tiền quá lớn từ những năm trước đó. Tăng cung tín dụng quá mức trong điều kiện kinh tế toàn cầu suy giảm, hàng làm ra khó bán, thì có nguy cơ làm gia tăng nợ xấu cho ngành NH và gây khó cho khả năng tín dụng quay về lại nơi xuất phát.[/FONT]
    [FONT=&quot]Tác động trái chiều chính sách tài khóa mở rộng [/FONT]
    [FONT=&quot]"Áp lực từ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đang đặt ra bài toán phức tạp cho các nhà làm chính sách VN khi phải lựa chọn và xây dựng một giải pháp phối hợp chính sách tối ưu thích ứng với sức chịu đựng của nền kinh tế trong ngắn hạn mà không phá huỷ nền tảng phát triển dài hạn".Chính sách tài khoá (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) là hai chính sách kinh tế cơ bản của Nhà nước trong điều tiết kinh tế vĩ mô nền kinh tế thị trường. Việc phối hợp giữa hai chính sách vốn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau là việc vô cùng phức tạp. Vì vậy cần phải có sự phối hợp một cách có chủ đích các chính sách kinh tế với nhau để đạt được đồng thời nhiều mục tiêu đề ra.Từ cuối năm 2007, NHNN thắt chặt dần CSTT nhằm đối phó với nguy cơ lạm phát leo thang. Tháng 10.2008 tới nay, khi lạm phát không quá lo ngại thì CSTT được nới lỏng dần (lãi suất cơ bản được giảm từ 14% xuống 7%/năm). Về CSTK, trước tháng 4.2008, Chính phủ áp dụng chính sách nới lỏng nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, từ tháng 5-9.2008, CSTK lại được thắt chặt với mục tiêu chủ yếu là chống lạm phát. Kể từ tháng 10.2008 tới nay, cả hai chính sách (tiền tệ và tài khoá) đều được nới lỏng nhằm thúc đẩy kinh tế lấy lại đà tăng trưởng dưới tác động của suy thoái. Điểm đáng chú ý trong năm 2009 là việc phối hợp giữa CSTK và CSTT trong gói kích thích kinh tế. Ở đây, Chính phủ sử dụng đồng thời hai chính sách. Thông qua CSTK có 122 nghìn tỉ đồng (dự kiến ban đầu là 145,5 nghìn tỉ đồng, bao gồm: Tạm thu hồi vốn đầu tư XDCB ứng trước, ứng trước NS, chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch 2008 sang, phát hành thêm trái phiếu chính phủ, giảm và dãn thuế, tài trợ LS tín dụng, chi an sinh xã hội... (dự kiến đến hết tháng 12.2009, tổng mức giải ngân ước khoảng 100 nghìn tỉ đồng). Gói kích thích kinh tế thông qua CSTT có hỗ trợ lãi suất (HTLS) 4%.Hiệu quả của sự phối hợp hai chính sách thời gian qua, theo ông Hà Huy Tuấn - Phó Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia là: Tăng tổng đầu tư toàn xã hội (từ mức 100 nghìn tỉ đồng trong quý I/2009 lên 150 nghìn tỉ quý III/2009); chi phí lãi vay/nợ vay NH ngắn hạn qua khảo sát tại 122 DN phi tài chính niêm yết trên sàn HoSE giảm từ 6,32% (trong quý IV/2008) xuống còn 2,94% (quý III/2009); tốc độ tăng sản lượng công nghiệp cải thiện mạnh từ -4,4% trong tháng 1.2009 tăng 6,5% trong tháng 9.2009; tốc độ tăng GDP sau điểm thấp nhất tại quý I/2009 đã tăng liên tục trong quý II và III/2009; tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các DN từ 11,9% (năm 2008) đã lên mức dự kiến 19% năm 2009...Tuy nhiên, còn những hạn chế của CSTK và CSTT trong điều kiện Việt Nam. Về CSTK, đó là: Tỉ lệ thâm hụt NS tăng mạnh, dự kiến chiếm 6,9% GDP năm 2009; nguồn bù đắp thiếu hụt thâm hụt NS thấp nhất so từ năm 2006 đến nay. Về CSTT; căng thẳng ngoại tệ; căng thẳng thanh khoản VND tại các NHTM... Bên cạnh đó, cán cân thanh toán tổng thể dự kiến năm 2009 âm (khoảng -1,9 tỉ USD); tốc độ tăng trưởng ngoài nhà nước giảm. Biện pháp nới lỏng CSTK và CSTT mà Chính phủ đã và đang thực hiện với mức thâm hụt NS và vay mượn khu vực tư (phát hành trái phiếu) cao làm ảnh hưởng đến giá trị đồng nội tệ. Nền kinh tế đứng trước nguy cơ của vòng luẩn quẩn: Lạm phát>chống lạm phát>nới lỏng tiền tệ và tài khoá để chống suy thoái> lại lạm phát> lại chuẩn bị chống lạm phát... Vòng luẩn quẩn này không phải vấn đề của riêng Việt Nam, mà là vấn đề toàn cầu.Tình trạng tài chính công đáng lo ngại trong khi theo đuổi mục tiêu kích cầu, các nước vẫn phải tiến hành song song cả duy trì CSTT nới lỏng và mở rộng chi tiêu Chính phủ. Tuy nhiên, theo TS Tô Kim Ngọc, điểm khác biệt căn bản giữa nền kinh tế VN và các nền kinh tế khác là ở chỗ áp lực đối với NSNN tồn tại thường xuyên và luôn có xu hướng tăng lên trước khi nền kinh tế rơi vào suy thoái với mức độ chi hàng năm trên 5%/GDP.Đến thời điểm hiện nay, phần lớn các chuyên gia cho rằng khả năng lạm phát quay trở lại năm 2010 là có cơ sở vì: Tiền được bơm ra từ gói kích thích kinh tế; nhập siêu thương mại; giá nguyên vật liệu (trong và ngoài nước tăng; bội chi NSNN tăng cao; hiệu quả đầu tư giảm xuống với chỉ số ICOR ngày càng tăng; sức mua tiêu dùng dân cư tăng; USD suy yếu gây áp lực lên VND; lạm phát thế giới có xu hướng gia tăng... NHNN ngày 25.11 đã phải ra quyết định tăng LSCB lên 8% và điều chỉnh tỉ giá VND/USD tuy điều này không nhất quán với tuyên bố ổn định LS trước đây. Dù NHNN không công bố chính thức, nhưng với những động thái như: Khống chế tăng trưởng tín dụng, không mở rộng quy mô thị trường mở, tăng LSCB, điều chỉnh tỉ giá, người ta cảm thấy rõ rệt CSTT đang có sự chuyển đổi theo hướng thắt chặt tiền tệ, trong khi đó CSTK vẫn đang trong tình trạng nới lỏng.Theo các chuyên gia, việc phối hợp các chính sách kinh tế là cần thiết, nhưng phải tính toán rất thận trọng liều lượng, tác động của chính sách không chỉ trong ngắn hạn, mà phải cả trong trung và dài hạn. Nếu sử dụng tuỳ tiện cả hai chính sách này có thể khiến cho vừa không đạt được mục đích kích thích tăng trưởng kinh tế, vừa khó kiểm soát được nguy cơ lạm phát cao quay trở lại. Nhiều kiến nghị, giải pháp liên quan đến pháp lý, chính sách, điều phối cho hai chính sách được đưa ra. TS Hoàng Huy Hà - Phó TGĐ BIDV - nói, cần kiểm soát chặt chẽ cung tiền và tín dụng, giảm chi tiêu Chính phủ và điều chỉnh lại ưu tiên đầu tư công. [/FONT]
    [FONT=&quot]"Hiện nay, mức thâm hụt NS của Việt Nam rất cao. Do vậy, Chính phủ không thể tăng chi tiêu từ NS, mà tập trung điều chỉnh ưu tiên cho hoạt động đầu tư của Chính phủ dành cho các dự án trong nước, tạo việc làm và khuyến khích sản xuất trong nước, xuất khẩu. Cần chú ý kích thích tiêu dùng. Hiện gói HTLS của Chính phủ dường như chỉ chú trọng đến kích thích cầu sản xuất". [/FONT]
    [FONT=&quot]Cơn bão giá cả tăng vùn vụt kéo dài trong suốt năm 2007 đã tác động đáng kể đến lạm phát và tăng trưởng của Việt Nam. Liệu xu hướng này có tiếp tục trong năm 2008 và làm thế nào kiềm chế giá cả và mức tăng lạm phát.[/FONT]
    [FONT=&quot]2008 sẽ bình ổn lạm phát[/FONT][FONT=&quot]
    [/FONT][FONT=&quot]Lạm phát năm 2008 được đánh giá sẽ bớt căng thẳng hơn so với năm 2007. Tuy nhiên, trong dự báo của chúng tôi, lạm phát vẫn sẽ cao và gần đây ADB đã xem xét lại con số lạm phát ước tính của năm 2008.Mức tăng lạm phát của năm 2007 chủ yếu do sự tăng giá của thực phẩm và vật liệu xây dựng. Giá của những mặt hàng này tăng một cách nhanh chóng trong năm 2007. Xu hướng này khó có thể tiếp tục tăng trong năm 2008 với điều kiện thời tiết bình thường để nguồn cung thực phẩm giảm áp lực về giá cả đối với các sản phẩm ngũ cốc cũng như gia cầm.Khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, giá cả trong nước ngày càng gần gũi với mức giá của thế giới là điều không thể tránh khỏi. Theo dự báo, giá dầu mỏ sau khi tăng cao trong năm 2007 sẽ giảm đều đến năm 2009 theo giá trị đồng USD.Các chính sách kiểm soát lạm phát áp dụng trong năm 2007 sẽ phát huy tác dụng vào năm 2008. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tin rằng qua kinh nghiệm của năm 2007, chính phủ Việt Nam sẽ có những nỗ lực mạnh mẽ ngay từ đầu năm 2008 để kiểm soát một cách cẩn trọng đối với sự biến động giá cả và có những biện pháp cần thiết cho vấn đề này.Các chuyên gia kinh tế đã chỉ ra nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến lạm phát tăng cao ở Việt Nam.Cả yếu tố cung và cầu đều là nguyên nhân chính của lạm phát. Về nguồn cung, điều kiện thời tiết bất thường và dịch bệnh sẽ đẩy giá lương thực, thực phẩm lên cao. Trong khi đó, nhu cầu tăng cao, đầu tư và tiêu dùng mạnh cũng là những yếu tố góp phần đẩy lạm phát tăng. Ví dụ, việc đầu tư cho bất động sản tăng sẽ đẩy chi phí về nhà ở và giá vật liệu xây dựng tăng. Về mặt tiền tệ, mức tăng nhanh của tín dụng trong năm 2007 ước tính vào khoảng 35% đương nhiên góp phần tạo thêm áp lực lên lạm phát. Tình trạng độc quyền giá cả, hệ thống sản xuất và phân phối không hiệu quả như trong trường hợp phân phối dược phẩm cũng tạo nên áp lực về lạm phát...[/FONT]
    [FONT=&quot]Cần linh hoạt trong chính sách tỷ giá hối đoái[/FONT]
    [FONT=&quot]Một trong những nguyên nhân của lạm phát cao là bão lụt, thảm họa thiên nhiên... ADB có khuyến nghị gì với chính phủ Việt Nam để giải quyết vấn đề này?[/FONT][FONT=&quot]Tăng trưởng kinh tế nhanh cũng làm tăng áp lực đến môi trường tự nhiên. Cần thiết phải có những nỗ lực phối hợp để nâng cao khả năng kiểm soát tốt hơn môi trường ở cấp quốc gia và khu vực.Cần xây dựng mạng lưới phúc lợi xã hội thông qua việc ngăn ngừa và giảm thiểu thiên tai. Nếu có sự chuẩn bị tốt sẽ giảm thiểu khả năng thay đổi bất thường gây nguy hiểm và thảm họa của thời tiết.Có một thực tế ở Việt Nam hiện nay là khi nói đến lạm phát, người ta nghĩ ngay đến vai trò của Bộ Tài chính. Ở khắp nơi trên thế giới, kiểm soát lạm phát là trách nhiệm chính của ngân hàng trung ương và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Vấn đề đặt ra là thứ tự ưu tiên của ngân hàng trung ương khi mà ngân hàng trung ương cũng phải thực hiện các nhiệm vụ khác. Và một vấn đề nữa đặt ra là hiệu quả của công cụ chính sách tiền tệ mà ngân hàng trung ương sử dụng để kiểm soát lạm phát. Để chống lạm phát, các quốc gia còn sử dụng chính sách tài khóa để giúp giảm áp lực. Trong bối cảnh lạm phát cao, sự mở rộng tài chính mạnh mẽ đương nhiên sẽ đẩy giá cả tăng cao. Chính vì vậy, một chính sách hiệu quả nhằm kiểm soát lạm phát đòi hỏi phải có những nỗ lực phối hợp của các ban, ngành liên quan.Hiện đang có một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam. Việc này có thể buộc chính phủ phải dùng nội tệ để mua ngoại tệ nhằm trung hòa tiền tệ. Lượng cung đồng Việt Nam theo đó sẽ tăng cao, dẫn đến việc có thể gây áp lực tăng lạm phát. Ngoài việc thắt chặt chính sách tiền tệ, chính phủ cũng cần phải quản lý chính sách tỷ giá. Sự kiểm soát tránh mất giá đồng Việt Nam thật ra cũng là một trong những nguyên nhân của lạm phát hiện nay. Chính vì vậy, chúng tôi khuyến khích chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn, tạo điều kiện cho dòng vốn ra và vào nhịp nhàng hơn .[/FONT]
    kimkuc and cloudlet1988 like this.
  4. MrGhost0tb

    MrGhost0tb Gà kinh tế Econ

    Phản hồi: "Chính sách tài khóa mở rộng"

    Đó là Bài tiểu luận Kinh tế học Đại cương (Kinh tế vĩ mô) về "Chính sách tài khóa"
    Mong các bạn đóng góp thêm để bài được hoàn chỉnh hơn.Cảm ơn!
  5. phantomas

    phantomas Moderator Moderator

    Phản hồi: "Chính sách tài khóa mở rộng"

    ôi trời!!! sao bạn hok cho vào file word cho anh em dễ dowload
    MrGhost0tb thích bài này.
  6. Nguyen Kim Tinh

    Nguyen Kim Tinh Gà kinh tế Econ

    Phản hồi: "Chính sách tài khóa mở rộng"

    dai ca viet hay wa
    thank na
    :-S:-$:43::)]\:D/*-:)
    MrGhost0tb thích bài này.
  7. cloudlet1988

    cloudlet1988 Gà kinh tế Econ

    Phản hồi: "Chính sách tài khóa mở rộng"

    Mình đang làm luận văn về đánh giả hiệu quả của gói kích cầu của Mỹ vừa rồi,bài viết trên quả thực rất hữu ích, cảm ơn mai công trường nhé.
    Nếu được bạn có thể đề ra tài liệu tham khảo được không, phần lý thuyết được trình bày khá chặt chẽ không biết bạn lấy từ sách nào thế, mình đọc giáo trình kinh tế vĩ mô I và II của trường kinh tế quốc dân thấy không giống.
    Updated:
    Trường ơi, bạn đổi số điện thoại rồi à, mình gọi để hỏi tài liệu mà không được, bạn có thể cho mình xin email để trao đổi không?
    Chỉnh sửa cuối: 27 Thg 2 2010
    MrGhost0tb thích bài này.
  8. MrGhost0tb

    MrGhost0tb Gà kinh tế Econ

    Chỉnh sửa cuối: 14 Thg 6 2010
  9. MrGhost0tb

    MrGhost0tb Gà kinh tế Econ

    Phản hồi: "Chính sách tài khóa mở rộng"

    Các bạn tiếp tục thảo luận nhiều đề tài hơn nữa nhé

Chia sẻ trang này