Tích lũy tư bản

Thảo luận trong 'Kinh tế học đại cương' bắt đầu bởi plasma, 7 Thg 6 2008.

  1. plasma

    plasma <font color="DarkOrchid"><strong> Vice Admin</stro

    Tích luỹ tư bản chủ nghĩa:
    Thực chất và động cơ tích luỹ tư bản:
    Thực chất tích luỹ tư bản (Tích luỹ tư bản về mặt chất)
    - Đặc trưng của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là tái sản xuất mở rộng tức là quá trình sản xuất năm sau được lắp lại với qui mô tư bản năm sau > năm trước, như vậy muốn tái sản xuất mở rộng thì nhà tư bản phải tích luỹ.
    Ví dụ: Qui mô tư bản năm thứ nhất là 5000 (C+V), nếu C/V = 4/1, m' = 100% thì:
    + Giá trị hàng hoá năm thứ nhất được sản xuất là 4000C+1000V+1000m = 6000
    Để tái sản xuất mở rộng thì nhà tư bản không tiêu dùng hết 1000m cho cá nhân mình mà dành một phần để tích luỹ mở rộng sản xuất.
    + Giả sử tỷ lệ tích luỹ là 50% thì 1000m được phân thành 500m1 để tích luỹ, 500m2 để tiêu dùng cho cá nhân nhà tư bản.
    Giả sử C/V=4/1 thì 500m1 được phân thành 400C1 (tư bản bất biến phụ thêm) và 100V1 (tư bản khả biến phụ thêm)
    Như vậy sang năm thứ hai qui mô tư bản là 4400C + 1100V = 5500
    Vậy: Thực chất của tích lũy tư bản là biến một phần m thành tư bản hay tư bản hoá giá trị thặng dư.
    - Phân biệt tích luỹ tư bản chủ nghĩa và tích luỹ nguyên thủy tư bản chủ nghĩa:
    + Tích luỹ nguyên thủy tư bản chủ nghĩa thực chất là dùng bạo lực để tước đoạt, tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất, là tích luỹ phi kinh tế.
    + Tích luỹ tư bản chủ nghĩa là tư bản hoá giá trị thặng dư, là tích luỹ kinh tế
    - Qua nghiên cứu thực chất của tích lũy tư bản rút ra nhận xét sau đây:
    + Vạch rõ nguồn gốc tư bản tích là m do lao động công nhân tạo ra
    + Tích luỹ trong quá trình tái sản xuất mở rộng không ngừng thì tư bản được tích luỹ lại chiếm một tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng tư bản - Tư bản ứng trước chỉ là "một giọt nước trong dòng sông tích luỹ"
    + Quy luật quyền sở hữu của người sản xuất hàng hoá biến thành quyền chiếm đoạt tư bản tư nhân.
    **== Các nhân tố ảnh hưởng đến qui mô tích luỹ (tích luỹ xét về mặt lượng)
    Nếu tỷ lệ tích luỹ không đổi thì qui mô tích luỹ phụ thuộc và khối lượng m, do đó những nhân tố sau ảnh hưởng đến qui mô tích luỹ:
    - Tăng cường bóc lột công nhân bằng cách kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động, bớt xén tiền công công nhân để làm tăng khối lượng m
    - Tăng năng suất lao động xã hội là tăng những điều kiện vật chất để tích luỹ tư bản
    - Mức độ chênh lệch ngày càng lớn giữa tư bản sử dụng (cả hệ thống máy móc thiết bị) với tư bản tiêu dùng (Thực tế khấu hao đi vào sản phẩm) tạo ra một sự phục vụ không công của máy móc thiết bị.
    - Khối lượng tư bản ứng trước trong đó trước hết là tư bản khả biến.
    a3) Động cơ tích luỹ tư bản chủ nghĩa: Động cơ thúc đẩy tích luỹ tư bản chủ nghĩa là do tác động của các qui luật kinh tế khách quan của chủ nghĩa tư bản.
    - Quy luật sản xuất m: Để đạt được mục đích sản xuất ngày càng nhiều m thì từng nhà tư bản không ngừng tích luỹ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao m'
    - Quy luật cạnh tranh: Để dành lợi thế trong cạnh tranh thì không ngừng phải tích luỹ, mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
    * Lưu ý: ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên:
    - Lý luận: Vạch rõ thực chất của tích luỹ và nguyên nhân của sự giàu có của tư bản
    - Thực tiễn: Trong điều kiện nước ta tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần khai thác sử dụng các nhân tố trên.
    Quy luật chung của tích luỹ tư bản:
    Tích luỹ tư bản gắn liền với các quá trình tích tụ, tập trung tư bản và nâng cao cấu tạo hữu cơ.
    Tích tụ và tập trung tư bản:
    - Tích tụ tư bản là sự phát triển thêm qui mô tư bản cá biệt bằng cách biến một phần m thành tư bản.
    - Tập trung tư bản là sự phát triển thêm qui mô tư bản cá biệt bằng cách sát nhập các tư bản sẵn có trong x• hội.
    * Phân biệt giữa tích tụ và tập trung tư bản:
    - Giống nhau: Đều tăng qui mô tư bản cá biệt
    - Khác nhau:
    + Tích tụ tư bản thì qui mô tư bản cá biệt tăng, tư bản x• hội tăng, tích tụ bản phản ánh mối quan hệ giữa công nhân và nhà tư bản trong xí nghiệp.
    + Tập trung tư bản thì qui mô tư bản cá biệt tăng, tư bản x• hội không đổi, tích tụ bản phản ánh mối quan hệ giữa các nhà tư bản với nhau.
    * Mối quan hệ giữa tích tụ và tập trung tư bản:
    Đó là mối quan hệ tạo điều kiện thúc đẩy lẫn nhau, Tích tụ tư bản làm tăng khả năng cạnh tranh dẫn đến thúc đẩy Tập trung tư bản, tạo điều kiện để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, nâng cao m' , tạo điều kiện để Tích tụ tư bản
    Tích tụ và tập trung tư bản dẫn đến tích tụ tập trung sản xuất, sản xuất qui mô lớn ra đời, quá trình này diễn ra thông qua cạnh tranh, trong đó tín dụng giữ vai trò đòn bẩy để thúc đẩy tập trung sản xuất.
    Cấu tạo hữu cơ:
    Tích luỹ tư bản không những làm tăng qui mô tư bản mà còn làm thay đổi cấu tạo tư bản. Cấu tạo tư bản được xem xét trên hai mặt:
    - Cấu tạo kỹ thuật
    - Cấu tạo giá trị
    Cấu tạo kỹ thuật là quan hệ tỷ lệ giữa khối lượng tư liệu sản xuất và số lượng công nhân vận dụng tư liệu sản xuất đó (Chỉ tiêu xác định là kw/công nhân)
    Cấu tạo giá trị là quan hệ tỷ lệ giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến.
    Giữa cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị có mối quan hệ với nhau, phản ánh quan hệ này bằng cấu tạo hữu cơ.
    Cấu tạo hữu cơ là cấu tạo giá trị phản ánh tình trạng cấu tạo kỹ thuật, do cấu tạo kỹ thuật quyết định (ký hiệu C/V):
    - C/V tăng thì về lượng tuyệt đối C tăng nhanh hơn V, về lượng tương đối (tỷ trọng) C/(C+V) tăng còn V/(C+V) giảm
    - V/(C+V) giảm tức là tư bản khả biến thừa ra một cách tương đối so với tổng tư bản tăng lên. Đây là nguyên nhân dẫn đến nạn nhân khẩu thừa (thất nghiệp), tư bản khả biến thừa ra so với nhu cầu của tư bản chứ không phải so với nhu cầu của xã hội.
    Quy luật của tích luỹ tư bản và xu hướng lịch sử của chủ nghĩa tư bản:
    Quá trình tích luỹ tư bản ngày càng làm tăng thêm tính gay gắt của mẫu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hoá với chế độ chiếm hữu tư bản tư nhân tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn trên biểu hiện về mặt giai cấp là mẫu thuẫn giữa giai cấp vô sản đại biểu cho lực lượng sản xuất và giai cấp tư sản đại biểu cho quan hệ sản xuất thống trị.
    Mâu thuẫn giai cấp tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội nỗ ra, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phải được thay thế bằng một quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với lực lượng sản xuất xã hội hoá đó là quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
    Nó khẳng định địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản.
    :
    Chỉnh sửa cuối: 16 Thg 6 2008
    bearxig, phamnu, luulanhuong and 9 others like this.
  2. plasma

    plasma <font color="DarkOrchid"><strong> Vice Admin</stro

    Ðề: Tích lũy tư bản

    **==Quy luật tích lũy tư bản là một trong những quy luật quan trọng nhất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phản ánh sự tác động của quá trình tích luỹ tư bản đến sự tăng trưởng kinh tế và đến tình cảnh của giai cấp công nhân. Theo quy luật này, tư bản được sử dụng càng lớn, quy mô và năng lực tích luỹ của tư bản càng lớn, và do đó số lượng tuyệt đối của giai cấp công nhân và năng lực sản xuất của họ càng lớn, thì đội quân hậu bị công nghiệp càng đông và mức độ bóc lột giai cấp công nhân càng lớn. Quá trình tích luỹ tư bản dẫn đến tích luỹ của cải, sự giàu có về phía giai cấp tư sản ngày càng lớn, sự chênh lệch thu nhập giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng cao, tình trạng nghèo khổ, thất nghiệp của giai cấp vô sản không thể bị xoá bỏ, thể hiện ở sự bần cùng hoá tương đối của giai cấp vô sản. Sự tác động của quy luật này làm cho mâu thuẫn đối kháng giữa tư bản và lao động ngày càng tăng, và tất yếu dẫn đến sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội. Nhờ sự tích lũy trong nhiều năm, tốc độ tăng trưởng của các dòng vốn chu chuyển qua hệ thống ngân hàng năm qua đã đạt mức cao nhất trong 20 năm trở lại đây, , trước khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO.
    **==Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thập kỷ qua rất ấn tượng, nhưng Chính phủ còn tham vọng đi theo bước chân của “các con hổ châu Á” trước đó. Việt Nam muốn thoát ra khỏi tình trạng thu nhập bình quân đầu người thấp (1.000 USD/năm). Tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa của Việt Nam đã tăng từ 10% năm 1985 lên tới 33% năm 2004.Tuy nhiên, mặt trái tiềm ẩn của việc này là vốn tích lũy nhanh tạo nên mức đầu tư quá cao và sự phân bổ tài sản không hiệu quả. Sản lượng lao động tăng chủ yếu do việc chuyển nhân công từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Sản lượng nông nghiệp tăng đều ở mức 4%/năm, trong khi, tăng trưởng của công nghiệp là 8%/năm, chủ yếu do tiềm lực sản xuất vốn tăng. Khu vực dịch vụ tăng trưởng ở mức 7%/năm trong 5 năm qua. Ngành công nghiệp hoàn toàn có khả năng tăng trưởng 10%/năm trong khi dịch vụ có thể tăng ở mức 8%/năm trong tương lai gần… Đặc biệt, nhu cầu vốn của nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng lên theo thời gian, dự báo ở mức 140 tỷ USD trong vòng 5 năm tới. Tỷ lệ đầu tư so với GDP ước tính sẽ cao hơn 40% vào năm 2010. Tuy nhiên, có thể vốn tiết kiệm sẽ được huy động để tài trợ đầu tư nếu nền kinh tế tránh được các cú sốc. Việt Nam có thể huy động được lượng vốn đủ để đáp ứng nhu cầu này, bởi vì với tỷ lệ tiết kiệm nội địa so với GDP trong những năm gần đây ổn định ở mức 31% - 33%, lượng vốn còn thiếu có thể sẽ được bù đắp bởi đầu tư nước ngoài và kiều hối.
    _Quá tập trung vào tích luỹ tài sản vật chất, các nước đang phát triển có thể bị cuốn vào thực hiện các chính sách trợ cấp đầu tư XDCB. Điều này dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp đặc quyền luôn được đảm bảo về lợi ích. Trong khi đó, có tình trạng đầu tư không đúng mức vào giáo dục, y tế và sức khoẻ, tình trạng khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên dẫn đến giá trị loại tài sản là nguồn nhân lực bị hạn chế và không được đánh giá đúng mức, tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá.
    _Tiếp tục lệ thuộc vào tích luỹ tài sản sản xuất sẽ có thể bị sai lệch trong chính sách kinh tế. Ví dụ, khi đầu tư nhiều vào tài sản sản xuất nói chung, để duy trì hoàn vốn cần đến khoản trợ cấp xã hội lớn hơn để thu hút nguồn vốn trong nước và nước ngoài. Hơn nữa, thúc đẩy tăng trưởng qua các chính sách không trú trọng đến mai sau có thể dẫn đến khai thác bừa bãi rừng và các loại tài nguyên thiên nhiên khác làm cạn kiệt các nguồn lực tự nhiên và tổn hại đến tính bền vững của môi trường. Năm 1997, ở các nước đang phát triển, tổng tiết kiệm trong nước khoảng 25% GDP. Tuy nhiên, để xử lý tình trạng cạn kiệt môi trường nên tổng tiết kiệm thực tế chỉ còn 14% GDP. Trường hợp tương tự cũng xảy ra ở Nigeria với tổng tiết kiệm là 22%, nhưng tiết kiệm thực tế là -12%; Liên bang Nga là 25% nhưng thực tế là -1,6% (theo World Bank 1999).
    **==Thứ nhất, vấn đề tích luỹ tư bản. Vấn đề hiện nay của Việt Nam là phải tạo môi trường thuận lợi để kích thích tư bản trong nước và nước ngoài tích cực đầu tư. Giữa những năm 1990, tỷ lệ của tổng đầu tư trong GDP tăng nhanh, đạt mức 27-28% nhưng sau đó giảm mạnh. Điều này một phần do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á nhưng phần quan trọng là do bộ máy hành chính kém hiệu quả làm cho phí tổn hành chính trong hoạt động đầu tư quá cao. Phương châm, đường lối về việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã có nhưng trên thực tế, thành phần ngoài nhà nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, trong việc tiếp cận thông tin về cơ hội đầu tư, về thị trường... Việc định hướng chiến lược công nghiệp hoá không rõ ràng và phương châm, chính sách hay thay đổi làm cho độ rủi ro của các dự án đầu tư quá cao. Từ năm 2002, tỷ lệ của tổng đầu tư trong GDP tăng trở lại, đạt đến gần 34% vào năm 2003, nhưng đó là kết quả của việc cạnh tranh chạy dự án đầu tư của các bộ ngành, và các địa phương chứ không phải là hiện tượng tích luỹ tư bản lành mạnh. Điều này thể hiện trong việc giảm sút hiệu quả của đồng vốn đầu tư, phản ánh trong khuynh hướng tăng của việc hệ số ICOR11. Increamental Capital - Output Ratio: Hệ số chỉ số vốn tăng cần thiết để tăng một sản lượng nhất định. .
    _Để tích luỹ tư bản nhanh và có hiệu quả cần tăng đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Tuy nhiên, FDI giảm liên tục từ năm 1997, gần đây mới hồi phục nhưng còn yếu. Trong tình trạng doanh nghiệp tư nhân trong nước còn nhỏ bé, các doanh nghiệp nhà nước còn yếu kém và đang trong quá trình cải cách, nếu không có một sự xoay chiều mạnh mẽ trong FDI thì liệu kinh tế Việt Nam có tăng trưởng được ở mức cao hay không? Nhìn sang các nước châu Á lân cận, ta thấy họ ngày càng nhận thức vai trò quan trọng của FDI trong xu thế toàn cầu hoá, và ra sức tạo điều kiện để thu hút FDI hơn nữa. Các nước này với quá trình phát triển và thu hút FDI trong nhiều thập kỷ đã xây dựng được một nền công nghiệp vững mạnh hơn Việt Nam rất nhiều. Có thể nói trình độ kỹ thuật, công nghệ, bề dày của tri thức quản lý kinh doanh tại các nước này đã tăng nhanh và phụ thuộc nhiều vào độ lớn của FDI được tích luỹ (FDI stock). Là một nước đi sau, FDI stock của Việt Nam quá nhỏ so với các nước lân cận là đương nhiên. Nhưng vấn đề đáng quan tâm ở đây là lưu lượng hàng năm (flow) của FDI vào Việt Nam cũng quá nhỏ so với Thái Lan chẳng hạn. Để rút ngắn khoảng cách, thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, phải quan tâm hơn đến vai trò của FDI. Điểm này sẽ được phân tích sâu hơn ở Chương 12. Trần Văn Thọ (2000b) bàn về sự liên quan giữa FDI với nguy cơtụt hậu
    _Việt Nam đang phấn đấu để đến năm 2010 ra khỏi tình trạng nước thu nhập thấp, vươn lên đạt mức thu nhập trung bình. Đây cũng là lúc phải nghĩ tới một chiến lược dài hạn để đưa nước ta dần dần trở thành nước có trình độ phát triển cao hơn. Kinh nghiệm chung trong khu vực Đông Á là, để phát triển từ nước có mức thu nhập trung bình thành nước có thu nhập cao, phải thực hiện 3 sự chuyển đổi lớn: từ đa dạng hóa sang chuyên môn hóa, từ tích lũy sang sáng tạo, từ kỹ năng cơ bản sang kỹ năng tiên tiến.
    _Trong bài này ta chỉ đề cập đến biện pháp từ tích lũy sang sáng tạo. Từ tích lũy chuyển sang sáng tạo đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực không chỉ thu hút vốn, mà quan trọng hơn là thu hút, học hỏi, ứng dụng công nghệ từ các nước tiên tiến và dần dần sáng tạo nên những công nghệ của chính mình. Công tác nghiên cứu khoa học cũng như nghiên cứu ứng dụng đều cần được chú trọng, trong cả các lĩnh vực khoa học cơ bản quan trọng và trong các lĩnh vực công nghệ gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn tới.
    bearxig, phamnu, ka0ru2510 and 11 others like this.
  3. van ly phuong

    van ly phuong Gà kinh tế

    Phản hồi: Tích lũy tư bản

    bai viet nay cua bac em rat tam dac se co dip em tiep tuc ban luan ve van de nay
    trangbete and plasma like this.
  4. diemvuong

    diemvuong Gà kinh tế

    Phản hồi: Tích lũy tư bản

    thanks nhieu nah ban ban that pro do bua nao ta lam wen dc ko ban
    trangbete and ulsa student like this.
  5. ulsa student

    ulsa student Gà kinh tế

    Phản hồi: Tích lũy tư bản

    thanks ban nhiu.bai viet cua ban rat hay.
  6. owentran

    owentran Gà kinh tế

    Phản hồi: Tích lũy tư bản

    bai viet nay rat la huu ich cho bai tieu luan cua toi. toi xin chan thanh cam on dien dan va tac gia bai viet nay nhe. Thanks
  7. nghia_bmt

    nghia_bmt Gà kinh tế

    Phản hồi: Tích lũy tư bản

    cam on ban nhieu
  8. owentran

    owentran Gà kinh tế

    Phản hồi: Tích lũy tư bản

    cảm ơn bạn rất nhiều nhé, nhờ bạn giúp mà tôi làm được bài tiểu luận của mình, chân thành cảm ơn bạn và diễn đàn.
  9. minhthanh_HVTC

    minhthanh_HVTC Gà kinh tế

    Phản hồi: Tích lũy tư bản

    bài viết đầu tiên của bạn khá hay. Nhưng mình vẫn chưa hiểu rõ về viêc so sánh giữa tích lũy tư bản và tích lũy nguyên thủy tư bản chủ nghĩa

Chia sẻ trang này