Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của c.mác vào việc phát triển nền kinh tế

Thảo luận trong 'Kinh tế học đại cương' bắt đầu bởi lethuhuong0104, 10 Thg 10 2010.

  1. lethuhuong0104

    lethuhuong0104 Gà kinh tế Econ

    VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG CỦA C.MÁC VÀO VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG X.H.C.N


    Khi nước ta thực hiện quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hoạt động của nền kinh tế đã có sự khởi sắc và làm nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi có sự lý giải và hướng dẫn của lý luận để tháo gỡ những khó khăn đó trong thực tiễn. Một trong những vấn đề đó là việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác như thế nào trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
    Kế thừa có sáng tạo những quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển về lý lụân lao động, C.Mác đã nghiên cứu, xây dựng lý luận hàng hoá sức lao động (HHSLĐ), C.Mác đã vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư, bản chất, mục đích của nền sản xuất hàng hoá TBCN. Đồng thời khám phá ra quy luật chi phối sự vận động, phát triển của CNTB. Như vậy, lý luận HHSLĐ được C.Mác xây dựng trong nền kinh tế thị trường TBCN. Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nền kinh tế này có sự khác biệt về chất so với nền kinh tế thị trường TBCN. Để làm rõ sự khác biệt về chất giữa nền kinh tế thị trường TBCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta cần vận dụng lý luận HHSLĐ của C.Mác vào thực tiễn phát triển nến kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
    Trước đây, trong lúc trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp nhưng do tư tưởng nôn nóng muốn khắc phục ngay sự tha hoá lao động, Đảng và Nhà nước ta đã không coi sức lao động là hàng hoá và không quan tâm đến vai trò của thị trường sức lao động trong nền kinh tế. Điều đó đã làm cho hiệu quả sử dụng nguồn lực lao động trong nền kinh tế không cao và là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho nền sản xuất xã hội rơi vào khủng hoảng. Nhận ra sai lầm, Đảng ta đã có chủ trương đổi mới và thực hiện nền kinh tế hàng hoá nnhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ttheo định hướng XHCN. Từ đó, Đảng ta đã ngày càng coi trọng sự phát triển của kinh tế thị trường và việc vận dụng lý luận HHSLĐ vào thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng, HHSLĐ và thị trường sức lao động xuất hiện, phát triển và ngày càng hoàn thiện, góp phần vào việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
    Việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của HHSLĐ và thị trường sức lao động đã giúp cho Nhà nước ta có những chủ trương đúng đắn trong việc phát triiển các hình thức kinh tế khác nhau, nhiều mô hình việc làm mới đã xuất hiện nhằm tạo ra sức cầu về HHSLĐ. Bên cạnh đó, những biện pháp để nâng cao chất lượng nguồn cung HHSLĐ cũng được chú ý nhiều hơn.
    Cung và cầu về HHSLĐ phải được gặp gỡ nhau, để tạo được sự gặp gỡ này cần phải thông qua hệ thống thông tin lao động việc làm. Vận dụng lý luận của C.Mác về sự xác lập mối quan hệ cung cầu về HHSLĐ, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng việc hình thành và phát triển hệ thống thông tin lao động việc làm, các hội chợ việc làm nhằm giúp cho người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ nhau, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp.
    Giá cả sức lao động là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, đó chính là tiền lương mà người sử dụng sức lao động trả cho người lao động. Vận dụng lý luận của C.Mác về giá cả sức lao động vào nền nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện chính sách tiền lương. Chính sách tiền lương đang ngày càng được tiền tệ hoá và phản ánh gần sát hơn với giá trị sức lao động.
    Trong lý luận HHSLĐ, C.Mác cũng chỉ rõ quan hệ lao động trong nền sản xuất TBCN là quan hệ bóc lột. Nhưng quan hệ này cũng chịu sự sự quản lý của Nhà nước và sự can thiệp của các tổ chức công đoàn. Vận dụng lý luận này, Nhà nước ta đã xây dựng và từng bước hoàn thiện Bộ luật Lao động, chính sách bảo hiểm xã hội và các chính sách kinh tế- xã hội khác nhằm đảm bảo quyền lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Các tổ chức công đoàn được sự quan tâm tạo điều kiện của Nhà nước đang từng bước phát huy vai trò của mình trong việc thúc đẩy hình thành quan hệ lao động bình đẳng trong các loại hình doanh nghiệp.
    Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, Nhà nước trực tiếp điều hành toàn bộ kế hoạch sản xuất và phân phối sản phẩm, vì thế không tránh khỏi việc tranh giành độc quyền cho một số ít người, làm xuất hiện tha hoá lao động: tầng lớp quan liêu đặc quyền, đặc lợi lớn dần còn người lao động phải chịu đựng chủ nghĩa bính quân và họ đã thờ ơ trong sản xuất và nghĩa vụ công dân, phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét. Vận dụng lý luận của C.Mác về điều kiện và biện pháp giảm tha hoá lao động, Nhà nước ta chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, xây dựng công ty cổ phần để gắn kết quyền lợi của người lao động với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần. Qúa trình cổ phần hoá ngày càng được đẩy mạnh và đã có những đóng góp tích cực trong việc giảm tha hoá lao động ở nước ta.
    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc vận dụng lý luận HHSLĐ vào nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta vẫn còn những tồn tại.
    Do chưa nhận thức đầy đủ về hai thuộc tính của HHSLĐ nên khả năng cạnh tranh của HHSLĐ Việt Nam trên thị trường sức lao động còn hạn chế. Các chính sách về giáo dục- đào tạo, khoa học- công nghệ, chính sách đào tạo nghề chưa giúp nâng cao giá trị sử dụng của HHSLĐ theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Với khả năng đặc biệt của HHSLĐ là toạ ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó chưa được chú trọng phát huy đúng mức, Nhà nước chưa có biện pháp quản lý tốt để sử dụng có hiệu quả giá trị thặng dư vào sự nghiệp xây dựng đất nước.
    Nhận thức về sự ảnh hưởng của tích luỹ tư bản đối với sự biến động cung cầu về HHSLĐ do C.Mác vạch ra cũng chưa nhận thức đầy đủ. Nhà nước chưa gắn kết được sự biến đổi của cơ cấu kinh tế với sự chuyển đổi cơ cấu giáo dục- đào tạo, cơ cấu lao động, làm cho ccung cầu về HHSLĐ chưa phù hợp với nhau. Cung về HHSLĐ vừa thừa vừa thiếu so với cầu về HHSLĐ. Sự mở rộng đầu tư, sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư cần nguồn lao động chất lượng cao đã không được đáp ứng.
    Sự biến động giá cả sức lao động theo biến động của chu kỳ phát triển công nghiệp tuy đã được Nhà nước quan tâm giải quyết nhưng vẫn chưa bảo đảm được quyền lợi cho người lao động. Tiền lương tổi thiểu tuy đã được điều chỉnh nhiều lần nhưng vẫn còn thấp, chưa thật sự tạo ra động lực thúc đẩy người lao động gắn bó chặt chẽ với doanh nghiệp. tiền lương vẫn chưa phản ánh đầy đủ giá trị sức lao động theo quan điểm của C.Mác và sự bất bình đẳng khó chấp nhận về tiền lương vẫn còn tồn tại giữa các thành phần kinh tế khác nhau, thậm chí trong cùng một thành phần kinh tế.
    Vai trò của Nhà nước và các tổ chức công đoàn đối với quan hệ lao động ở các doanh nghiệp tuy ngày càng hoàn thiện nhưng mối liên kết hoạt động giữa nhà nước, công đoàn, người lao động và người sử dụng lao động còn lỏng lẻo, hiệu quả chưa cao. Luật Lao động vẫn còn kẽ hở, cán bộ công đoàn chưa thật sự chuyên trách đã làm cho việc hoàn thiện quan hệ lao động ở cơ sở theo quan điểm của C.Mác chưa thật sự được đẩy mạnh.
    Chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, xây dựng công ty cổ phần để gắn kết quyền lợi của người lao động với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua đó khắc phục sự tha hoá lao động theo quan điểm của C.Mác đạt kết quả chưa cao. Quá trình cổ phần hoá diễn ra châm, người lao động không hứng thú với việc mua cổ phần, cổ phiếu. Tất cả điều đó cho thấy cơ chế thực hiện sở hữu về mặt kin tế đối với sức lao động trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta còn lỏng lẻo, kém hiệu quả.
    Như vậy, việc vận dụng lý luận HHSLĐ của C.Mác trong điều kiện hiện nay, đòi hỏi phải nắm vững bản chất và xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam, xác định rõ nền kinh tế nước ta đang ở trong bậc thang nào của tiến trình phát triển tất yếu của các hình thái kinh tế- xã hội và thực trạng nguồn nhân lực của đất nước.
    Mặt khác, việc vận dụng lý luận HHSLĐ của C.Mác còn đòi hỏi phải tìm ra được các giải pháp hữu ích nhằm tiếp tục vận dụng tốt các nội dung cơ bản trong lý luận HHSLĐ của C.Mác cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
    :

Chia sẻ trang này